THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!…!!

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016

TRÙNG DƯƠNG THƯƠNG HẬN PHÚ!



TRÙNG DƯƠNG THƯƠNG HẬN PHÚ!

Vinh quang thay !
Non sông gấm vóc - Đã gìn giữ biên cương từ thuở Văn Lang
Đất nước âm vang- Còn lưu truyền quan ải tự đời Lạc Việt
Lời hào khí -Thanh tao thơm ngát Hội Nghị Diên Hồng
Giọng hùng ca -Hào sảng lẫy lừng Tuyên Ngôn Thường Kiệt

Vậy mà!
Văn Hiến-Khai ấn bốn ngàn năm ai ngoảnh mặt bịt nguồn sanh
Biển Đông-Hình thành hằng mấy tỷ giặc đang tâm dầm nước chết.
Bãi bờ hiu hắt- Tội cát nằm kêu dã tràng hình bóng chẳng còn,
Sóng gió chơi vơi-Thương thuyền ngồi gọi tôm cá tăm hơi đâu hết.

Cũng bởi-Bè cánh tham ô bán đất-Cửa quan giành giựt phần hơn,
Nên chi-Ngư Trường phiêu dạt treo thuyền-Thủy đạo đắm chìm thua thiệt.

Hèn chi !
Cứ ve vuốt-Thằng anh em hữu nghị - Mà ác độc tự lòng lang
Mãi vân vê- Đồ bè bạn ranh ma- Cứ tham tàn như dạ “Chệt”.
Vô tình quyết định- Cắt đất - Cho ForMoSa dễ dàng xả thải - Vì kẻ tham ăn
Có ý giao kèo-Trá hình- Để Nhà Máy Thép thuận lợi buông câu -Tại quan vơ vét.

Hãy nhìn xem!
Phương Bắc -Nòi giống giặc xảo trá -Trồng mầm ác nghiệp đã băng hoại giữa Càn
Khôn,
Trời Nam-TổTiên Ta ôn tồn- Cấy nụ thiện nhân còn tươi nhuần bên Nhật Nguyệt.

Sách cũ- Cha ông bay Đường Thanh Tống Hán - gặp nạn Tam quốc xáo thịt- cũng bởi rẽ chia,
Tờ xưa -Anh em ta Đinh Lê Lý Trần- được thời Ba miền đồng lòng - là do đoàn kết.

Nhắc cho nhớ-Đời Tống Hán Thua trận rút về -Tướng Sĩ qua Ải Chi Lăng phải bò càng,
Ghi khỏi quên-Thuở Minh ThanhThu binh tháo chạy- Quân xa lấn Tôn Sĩ Nghị còn lê lết.

Vậy mà!
Ngạo ngược nhà máy Vũng Áng vẫn thải độc giết hại sanh linh,
Nghênh ngang Ngư thuyền Tàu ô còn buông câu giăng lùa tôm tép.

Bờ bãi-Mênh mông hun hút - Lạnh tanh bóng cua còng
Mây trời-Bát ngát xa xăm -Sạch trơn đàn cò diệc
Già trẻ thất nghiệp-Mạn thuyền nằm thắc thỏm lê la
Trai Gái xa nghề- Chài lưới đứng đưa thoi mải miết.

Đau đớn quá!
Nhổ neo tảng sáng-Nhớ biển xưa thuyền cưỡi gió ra khơi làn Thủy cung tỏa vị thơm lừng
Ghé bãi tờ mờ-Thương bờ cũ tàu rẽ trăng cặp bến ánh Nguyệt điện chan mùi sạch đẹp.

Chỉ mong!
Đày tớ - Giữ gìn miệng bớt đong đưa
Quan viên-Tôn trọng Dân thôi chì chiết
Đem trí tuệ thay cường bạo-Vỗ yên thiên hạ còn phải ngó ngàng,
Lấy nhân tâm đổi nhiễu nhương-Chế ngự ba quân thì nên minh xét.

Cùng con đỏ dùng đại nghĩa - Mà bớt săm soi
Với quân thù lấy can trường- Cho thêm quyết liệt.

Hãy noi gương!
Đất Việt- Trang thục nữ -Môi son má phấn không thiếu kẻ anh thư
Trời Nam- Đấng hùng anh- sách lược binh thư vẫn thừa người hào kiệt.
Giống nòi Cốt cách - Muôn thuở mãi hiên ngang,
Khí phách tông môn-Bao đời còn lẫm liệt.

Giữa trận mạc - Gương phụ tử* tỏa chí can trường
Trên chiến Thuyền- Nếp đệ huynh **trồng nhân oanh liệt.

Hỡi quân giặc!
Quen thói cướp nước đừng giở quẻ tâm thần
Liệu chừng lui quân bớt gieo mầm oan nghiệt
Óc bành trướng-Giữa thế giới giặc mà nhuộm lưỡi phân bua,
Trí tung hoành-Trên chiến trường Ta sẽ bày binh điều tiết.

Hay là đợi!
G 7***    - Diễn tuồng Xích Bích cùng Biển đông sẽ âu ca chiến thắng lạc vô dư
Dân ta- Trích vở Bạch Đằng với Hàm Tử rồi tung hô khúc quân hành bất diệt.

Sách lược -Nhún nhường không nhu nhược- Chờ vạch tội giặc cướp để ngăn ngừa,
Binh thư- Khiêm tốn chẳng đớn hèn -Mong điểm mặt quân thù mà tiêu diệt.

Thương hận thay!
Thủy Tộc-Hồn thiêng phảng phất dọc Biển Đảo -Trời cũng bồi hồi
Anh Linh- Tử sĩ phiêu diêu nơi GạcMa - Đất còn tha thiết.

Vẫn lắm người vọng ngữ- Còn thờ ơ biên cương lãnh thổ - Cứ vỗ ngực uyên thâm,
Đang nhiều kẻ ngoa ngôn-Luôn hờ hững phên giậu giang sơn- Lại tôn đây minh triết.

Cúi Mong!
Có nhột- Xin thượng cấp hoan hỷ để cảm thông
Chưa êm- Mong thứ dân lạc quan đừng thêu dệt.

Mạo muội đành hanh mấy chữ chọn nghiên mài,
Chàng ràng lõm bõm đôi câu cầm bút viết.

Còn mến- Chờ trí giả hạ cố để nâng niu,
Hết thương- Đợi hiền nhân vung tay mà bôi quệt.

Nỗi Khắc khoải chia ly
Lòng Vô cùng thương tiếc !

Lê Đăng Mành 7/7/2016

Ghi chú

*Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi
** Trần Hưng Đạo Và Trần Qung Khải
Mối bất hòa giữa 2 chi họ cũng như bất hòa cá nhân giữa 2 người trở thành một hiểm họa sâu sắc. Nhận ra điều này, Hưng Đạo vương chủ động tìm cách giải hòa:
Một hôm, Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Quang Khải vốn sợ tắm gội, Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Quang Khải:
"Mình my cáo bẩn, xin tắm giùm", rồi cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói:
"Hôm nay được tắm cho Thượng tướng".
Quang Khải cũng nói:
"Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho".
Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai người càng thêm mặn mà. Bản thân làm tướng văn, tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu.
***G-7 (viết tắt Tiếng Anh Group of Seven) gồm các nước :PHÁP,ĐỨC,Ý,NHẬT,ANH,HOA KỲ ,CANADA.


Các quốc gia nhóm G7 sẽ ra tuyên bố chung yêu cầu Trung Quốc tuân thủ phán quyết về vụ kiện Biển Đông của tòa Trọng tài Thường trực (PCA).

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

Ô LÂU GIANG PHÚ!

            
Ô LÂU GIANG PHÚ!
Từ châu Hoan Châu Hóa-thiên di tạm dừng Chân
Đến Châu Rí châu Ô - lập nghiệp thôi tiếp bước
Chim đậu -đất lành xứ ô lâu
Người nương -suối ngọt miền sông nước
Trộm nghe,nên nay!
Kẻ Hậu Bối - Giam thân trích lục cùng miền xuôi
Bậc Tiền Nhân- Gợi ý sao tìm khắp mạn ngược.
Bao bận -Manh nha đứng chờ cung tay để nâng nghiên
Đôi phen-Thắc thỏm ngồi đợi dỏi mắt mong mài mực.
Vẫn còn đó- Cây đa gió gom nghĩa ngày xưa
Mãi lưu đây-Bến cộ trăng gọi tình thuở trước.
Vinh quang thay!
Miền Câu Lãm - Bùi Dục Tài Tiến Sĩ khai khoa”1”
Xứ Vân Trình - Trần Văn Kỷ Trung thư phục quốc”2”
Làng Vĩnh Cố- Ngyễn Quang Vệ Uý đã tới vinh quang
Quê An Thơ –Lục Sự Hoàng Từ lui về tủi nhục.
Hào hoa Kẻ Vịnh -Thượng quan Nguyễn Đức Trứ giữ dạ thanh liêm
Lịch lãm An Thư- Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan gìn lòng chính trực”+”.
Không hẳn Nam tử- Bút tung phượng múa rồng bay
Mà còn Nữ lưu - Chữ động quần là áo lượt
Qua Mỹ Chánh - Lừng danh thứ thiếp “3”Quang Trung- một dạ thương nòi
Về Hội Kỳ - Ngát tiếng Cửu Giai “4” Thành Thái - chung lòng yêu nước.
Trang võ tướng- Đôi bờ còn tán tụng giỏi binh thư
Đấng văn quan-Muôn bến mãi biểu dương tài thao lược
Nơi hiểm trở- Quân Tây Sơn không ngại Đá giăng cồn
Chỗ khó khăn- Tướng Nguyễn Huệ chẳng tày Bà Đa vực.*
Thương kính quá!
Bờ Hà Lỗ - Thể phách Văn Sở Tướng Quân- đất gói oan khiên
Bến Ưu Điềm -Thuyền tang Tài Nhân Thị Ngọt-sóng trào sướt mướt”5”
Lẫm liệt thay!
Tráng liệt tử- Hồng Lô Tự Khanh vua Minh Mạng tặng phong
Nguyễn Tri Phương- Quân Kỳ Thạc Phụ đời Miên Tông ban tước « 6 »
Phò Mã- Kết duyên với công chúa Đồng Xuân
Nguyễn Lâm - Tử trận gìn non sông Tổ Quốc
Xã Chánh Lộc- Từ đường Phụ Tử muôn thuở khói bay
Làng Chí Long- Miếu mộ Đệ Huynh nghìn thu bia tạc.
Nghệ nhân Măc khách -Mỹ Xuyên còn nức tiếng tợ Kế Môn
Quân Tử Trượng phu- Phò Trạch mãi lừng danh như Đại Lược.
Nam Quảng Trị bao kẻ chợ- Mỹ Chánh Hà Lộc Kẻ Lạng Hà Lỗ Câu Nhi,AnThơ Phú Kinh Kẻ Văn Kẻ Vịnh sử xanh không quên,
Bắc Thừa Thiên bấy làng quê - Phước Tích Mỹ Xuyên Trạch Phổ Ưu Điềm Hòa Viện,Vĩnh An Vân Trình Phú Nông Điền Hương con đỏ còn thuộc. « 7 »
Thời Minh Mạng –Lừng danh An Thơ Nguyễn Đức Hoạt Thượng Thư Nguyễn Đức Tư Tri Phủ vọng tộc thế phiệt trâm anh,
Thuở Miên Tông- Vang tiếng Kẻ Vịnh Tri Phủ Nguyễn Đức Dĩnh Viên Ngoại Nguyễn Đức Giãn thế gia vương tôn đài các.
Đất Văn Qũy - công thần Nguyễn Văn Vịnh Tri phủ Viện Sỹ Hàn Lâm
Xứ Câu Nhi-Danh tướng Hoàng Tự Bôi Tam Phẩm Phụng Sắc Triều Mạc. « 8»
Làng cổ Phước Tích-Họa sư Lê Văn Miến màu đọng lung linh « 9»
Giáo xứ Kẻ Văn-Thánh đạo Lê Đăng Thị hương bay ngào ngạt « 10».
Đôi bờ Nam bắc- Cử nhân Tiến sĩ như lá lay bay
Hai dải Trị Thiên-Khanh Tướng công hầu tợ sương lác đác.
Uy nghiêm Phạm vũ-Gia trì khuya sớm ngân tiếng u huyền
Lồng lộng Giáo đường - Cầu nguyện chiều hôm lắng lời trầm mặc.
Cội nguồn sông suối - Hợp lưu cùng sóng nước quần tụ mênh mông
Mạng mạch Ô lâu - Chung thủy với Tam giang tương phùng bát ngát.
Ngẫm nay !
Mây vạn thuở- lang thang đổi săc giữa trời xanh
sóng muôn đời- lãng đãng thay màu bên nước bạc.
Ngày xuống- ngồi đong cuộc có-không
Sáng lên- đứng lường thời được mất.
Thô thiển - Đôi dòng tâm niệm tiếc thương
Bùi ngùi – mấy chữ lòng hoài cảm tác !

                                         Mùa đông Giáp Ngọ
                                           LĐM Phụng Bút
GHI CHÚ :
1- Câu Lãm:Bùi Dục Tài người đổ Tiến sỉ thời Vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sỉ khai khoa của xứ Đàng Trong, Ông được thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại
2- Vân Trình: Trần Văn Kỷ, người làng Vân Trình (tục gọi là làng Rào), tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa (nay thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tin dùng, phong đến chức Trung Thư Phụng Chính, tức chức quan chuyên lo việc dự thảo chính lệnh cho nhà vua.
3-Mỹ Chánh :Nguyễn Thị Bích-người vợ thứ hai của anh hùng Nguyễn Huệ - Hoàng Đế Quang Trung
4- Dương Thị Ngọt ở làng Hội Kỳ, xã Hải Chánh ,Với vẻ đẹp đoan trang và phẩm hạnh cao quý, cô gái Dương Thị Ngọt đã trở thành “cửu giai tài nhân” của vị vua yêu nước Thành Thái. Được vua Thành Thái hết mực yêu thương và sủng ái, bà phi Dương Thị Ngọt đã không tránh khỏi sự ghen ghét, đố kỵ vẫn thường xảy ra ở chốn hậu cung mà kết cục là bà bị giáng tội khi quân và phải lãnh án hình xử chém. Tiếc thương ái phi Dương Thị Ngọt, vua Thành Thái đã cho cử hành tang lễ của bà theo nghi lễ của triều đình đối với một hoàng phi và dùng thuyền rồng đưa Linh cửu bà về Cặp bến Uu Điềm và đưa lên yên nghỉ tại quê nhà thân yêu ở thôn Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu.
5- Tướng Ngô Văn Sở, một người có công đối với nhà Tây Sơn, nhưng không may bị tội, phải dìm xuống nước sông Hương cho đến chết, thi hài chôn ở gần chùa Linh Mụ. Sau đó hai năm, ông được triều đình phục chức và cho cải táng đưa ra chôn ở làng Hà Lỗ bên bờ sông Ô Giang.
*Địa danh đoạn Sông ở Hội Kỳ có tên:vực Bà Đa và Bãi Đá giăng.
6- Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân(1800), quê làng Đường Long (Chí Long), xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.
Năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các, hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ, năm 1831 thăng Hồng Lô tự khanh.
Tháng 5 năm 1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công đại thần Cơ mật viện, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu (Huế)
Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức tự soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.
7- Tên làng chữ đậm
8-Hoàng Bôi Người xã Câu Nhi, thôn Câu Lãm Hải Lăng!Triều Mạc ,được dự vào hàng 5 bậc tước,Quan vào hàng Tam Phẩm
9- Lê Văn Miến (1874-1943) là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris, là hoạ sĩ đầu tiên ở Việt Nam.
10- Giuse Lê Đăng THỊ, sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị. Làm Cai Đội dưới thời vua Tự Đức, xử giảo ngày 24-10-1860 tại An Hòa, phong Chân Phước ngày 02-5-1909 do Đức Piô X, phong hiển thánh


SƯƠNG CHẲNG SẦU ĐÂU!


SƯƠNG CHẲNG SẦU ĐÂU!
Đêm đông trăng lạnh bủa xa mờ
Bụi nhạt rắc nhòa cạn giấc mơ
Cành liễu bơ phờ sương gói mộng
Gió khều lơi lả rụng thành thơ
Sương chết cỏ hoa bỗng dại khờ
Giọt trăng lấp lánh bước chơ vơ
Chan hòa hấp hối lay mầm dậy
Thân hóa đài mây thỏa đợi chờ
Gởi lại bên đời những đóa rêu
Pha nền biêng biếc gợi thương yêu
Chưng thời gian đọa lên thành quách
Lối cũ về … đi… đọng bóng chiều
Lắng nghe hơi thở của làn sương
Tan hợp ngại chi mấy đoạn trường
Thanh thản vô ưu nên lẫm liệt
Phiêu nhiên chơi giữa cuộc vô thường
Sương chan khí tiết dưỡng sầu đâu *
Thủ phận quê mùa mặc bể dâu
Chẳng bợn mai tùng khom cửa phủ
Đông phong chớ ghẹo tội hoa sầu!*
                          Lê Đăng Mành
*Cây sầu đông

HOA GIANG HỒ!

 
HOA GIANG HỒ!

Đông ấy cũ rich như xưa
Kia mới toanh dậy như vừa tái sinh
Loay hoay trầm giữa lặng thinh
Chưa an cư đã chẻ mình long đong

Chống câu lục bát qua sông
Nửa đường tước vận phơi đông lạnh lùng
Phù sa bện cuộc tương phùng
Cá nhai bọt giỡn cho trùn ngẩn ngơ

Rác rều tỉnh vớt cơn mơ
Chung thân kiến kết qua bờ thảnh thơi
Rong rêu sóng liếm tả tơi
Dập dềnh vô trụ rong chơi vô thường

Đông về giăng cụm tang thương
Ném lên thơ cõng đoạn trường chông chênh
Oằn vai kĩu kịt nhẹ tênh
Vuốt ve khốn đốn khều cành trăng trôi

Níu khúc phiêu bạt mù khơi
Gọi bèo* lữ thứ xanh bơi không nhà
Nổi trôi tánh trụ nõn nà
Phong trần tím nhụy biếc hoa giang hồ!

                                               Lê Đăng Mành
*Lục bình
 
 

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

BỐN MÙA AN NHIÊN !



BỐN MÙA AN NHIÊN !
Tay bỏng còn khêu bếp hạ tàn
Mặc lòng cứ gợn sóng miên man
Vết khâu buốt nhói thời phiêu lãng
Chực tạt vào thềm thu dợm sang
Quyên khàn xa xót tội canh thâu
Trăng rót vàng dôi cúc bạc màu
Đứt vận câu thơ trườn ngắc ngoải
Lá rơi bướm tủi liệm đời sâu
Thu chằm xa vắng xuống tang thương
Vô trú phù vân nhuốm đoạn trường
Hiu hắt đìa sen dầu ảm đạm
Vô thường nhắc nhở biết yêu thương
Dơi tìm gọi bạn tránh làn đông
Côi cút trời ơi! Thiếu ấm nồng
Chỉ có loài hoa hừng hực lửa
Trạng nguyên đỏ thắm tiếp xuân nồng
Kiến soi trời động để thiên di
Vật đổi sao dời cứ đến đi
Không- sắc phiêu bồng trong vũ trụ
Có sanh-có tử lẽ huyền vi
Thu- hạ - đông… mầm đã nhú xuân
Dẫu từng điêu đứng biết bao lần
Choàng vai cô tịch như bằng hữu
Bất chợt bên thềm hé nụ ngân !
                         Lê Đăng Mành 











                                               TA VỀ TA TẮM AO TA ...

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Ô LÂU TÌNH SỬ


                                                          Bến hương Ô Lâu

 BÀI XƯỚNG
Ô LÂU TÌNH SỬ!

Mời về Quảng Trị xứ Ô Lâu
Trầm tích còn hằn nét bể dâu
BẾN CỘ tình xưa hờn khắc khoải
HỘI KỲ nghĩa cũ tủi thương đau
CÂU NHI đồng vọng thời khoa bảng
HÀ LỖ bảo lưu cốt Tướng Hầu
MỸ CHÁNH vang danh hồn thục nữ
Quy hương cố quận -ĐÁ GIĂNG sầu !

                                  LĐM
BÀI HỌA :

Sông Gương

Tấm gương phẳng lặng dòng Ô lâu
Vẫn chiếu bao đời biển hóa dâu
Bến Cộ tên đò lưu dấu tích
Hội Kỳ Thị Ngọt nhớ niềm đau
Câu Nhi thuyền rước quan đầu bảng
Hà Lổ sông đưa tướng chức hầu
Con nước miên man tình cố xứ
Ngàn năm còn đó những vui, sầu ./.

                                Châu Thạch ,
Ô LÂU TÌNH SỬ!

Kiếp tằm chưa đến được Ô Lâu
Hoá nhộng nay rồi cứ tiếc dâu:
BẾN CỘ rộng tình hoen nỗi nhớ
HỘI KỲ đố kỵ úa niềm đau
CÂU NHI khai sáng dòng Văn Hiến
HÀ LỖ bừng soi ngọn Tướng Hầu
MỸ CHÁNH nữ nhi hồn vạn trượng
ĐÁ GIĂNG giăng mãi mối miên sầu !

                      Phan Tự Trí Biên Hòa

TÌNH KHÚC Ô LÂU

Tình đầu tôi chết với Ô Lâu !
Nhắc đến nghe tim rớm máu sầu !
Đâu buổi Hội Kì trao tóc biếc
Để hồi Bến Cộ trút niềm đau !
Mơ tan tiếng đất quan đầu bảng
Mộng vỡ thơm danh đấng tước hầu
Mỹ Chánh ! Câu Nhi , Hà Lỗ...hỡi
Vì ai bể thẳm hoá nương dâu !?

             Phương Ngữ Đà Nẵng




Ô SỬ ĐẬM TÌNH

Mới về xứ Quảng chửa bao lâu 
Ngơ ngác bên lề phận cháu dâu 
Bến cũ người xưa từng thắm thiết
Thù tan hận giải hết thương đau. 
Tìm qua Mỹ Chánh nghinh hào nữ
Hướng đến Câu Nhi học bậc hầu. 
Ô sử đậm tình mình lõm bõm
Giận thân khiếm khuyết dạ hơi sầu .

                Trần Như TùngPhú Thọ
Chú thích:Bài xướng

(Chữ in hoa đậm là địa danh)

Bến Cộ :

 "Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa, bến cộ, con đò khác đưa
Cây đa, bến cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi…"

Hội Kỳ :Dương Thị Ngọt ở làng Hội Kỳ, xã Hải Chánh ,Với vẻ đẹp đoan trang và phẩm hạnh cao quý, cô gái Dương Thị Ngọt đã trở thành “cửu giai tài nhân” của vị vua yêu nước Thành Thái. Được vua Thành Thái hết mực yêu thương và sủng ái, bà phi Dương Thị Ngọt đã không tránh khỏi sự ghen ghét, đố kỵ vẫn thường xảy ra ở chốn hậu cung mà kết cục là bà bị giáng tội khi quân và phải lãnh án hình xử chém. Tiếc thương ái phi Dương Thị Ngọt, vua Thành Thái đã cho cử hành tang lễ của bà theo nghi lễ của triều đình đối với một hoàng phi và dùng thuyền rồng đưa bà về yên nghỉ tại quê nhà thân yêu ở thôn Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu.
Câu Nhi: Bùi Dục Tài người đổ Tiến sĩ thời Vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sĩ khai khoa của xứ Đàng Trong, Ông được thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại
Hà Lỗ :Nơi cát táng Tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở.
Mỹ Chánh :Nguyễn Thị Bích-người vợ thứ hai của anh hùng áo vải, cờ đào Nguyễn Huệ - Hoàng Đế Quang Trung hiển hách chiến công dẹp Trịnh, phù Lê và phá tan quân Thanh xâm lược
ĐÁ GIĂNG: bãi đá ngầm sông Ô Lâu ở đoạn Làng Hội Kỳ




                                        Đoạn sông Ô Lâu gặp sông Thác Ma
                                       ở làng Phước Tích và Lương Điền

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

ĐƯỜNG VỀ XÓM ĐÙNG !



























                                             SỬA SANG BẾN NƯỚC

                                          HỆ THỐNG GOM RÁC THẢI




                                            THÊNH THANG LỐI VỀ